Hướng dẫn phân chia di sản thừa kế khi không có di chúc mới nhất

Hướng dẫn phân chia di sản thừa kế khi không có di chúc mới nhất

Căn cứ theo Bộ luật Dân sự 2015, khi một người chết không có di chúc, di sản sẽ được phân chia theo pháp luật dựa trên các hàng thừa kế. Những người thừa kế cùng hàng sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau. Chẳng hạn, nếu người quá cố chỉ còn lại 4 người con thuộc hàng thừa kế thứ nhất, tài sản sẽ chia đều làm 4 phần bằng nhau. Bên cạnh đó, việc phân chia di sản có thể bị hạn chế (hoãn lại) dựa theo ý chí của người lập di chúc, thỏa thuận của tất cả các đồng thừa kế hoặc theo phán quyết của Tòa án để bảo vệ đời sống của vợ/chồng còn sống (tối đa không quá 6 năm).

Nguyên tắc phân chia di sản khi không có di chúc

Nguyên tắc phân chia di sản khi không có di chúc
Nguyên tắc phân chia di sản khi không có di chúc

Theo quy định của pháp luật dân sự, thừa kế theo pháp luật sẽ được áp dụng ngay khi người để lại di sản chết mà không có di chúc. Lúc này, tài sản của người quá cố sẽ được chia theo thứ tự các hàng thừa kế cụ thể như sau:

  • Hàng thừa kế thứ nhất: Bao gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.
  • Hàng thừa kế thứ hai: Bao gồm ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại.
  • Hàng thừa kế thứ ba: Bao gồm cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Quy tắc phân bổ giá trị di sản:

  • Những người thừa kế ở cùng một hàng thừa kế sẽ được hưởng các phần di sản có giá trị hoàn toàn bằng nhau.
  • Những người ở hàng thừa kế sau chỉ có quyền được hưởng thừa kế nếu như không còn ai ở hàng thừa kế trước đó (do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hoặc tự nguyện từ chối nhận di sản).

Ví dụ thực tế: Trường hợp người để lại di sản là người bà qua đời không để lại di chúc, và tại thời điểm mở thừa kế chỉ còn lại 04 người con (thuộc hàng thừa kế thứ nhất). Khi đó, toàn bộ di sản hợp pháp của người bà sẽ được chia đều thành 04 phần bằng nhau cho 04 người con này.

Quy định chi tiết về việc phân chia di sản theo pháp luật

Quá trình phân chia tài sản thừa kế theo pháp luật phải tuân thủ nghiêm ngặt theo các quy định về mặt hình thức lẫn đối tượng thừa kế đặc thù:

  • Bảo vệ quyền lợi của người thừa kế đã thành thai: Trong trường hợp phân chia di sản mà có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa được sinh ra, các đồng thừa kế phải dành lại một phần di sản bằng với phần của người khác. Nếu đứa trẻ sinh ra và còn sống, họ sẽ được hưởng phần di sản này; nếu đứa trẻ chết trước khi sinh ra, phần tài sản dành lại đó sẽ được chia đều cho các người thừa kế còn lại.
  • Phương thức phân chia hiện vật: Các đồng thừa kế hoàn toàn có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật. Trong tình huống không thể chia đều bằng hiện vật, các bên có thể tự thỏa thuận về việc định giá tài sản và xác định ai là người nhận hiện vật. Nếu không thể đạt được thỏa thuận thống nhất, hiện vật đó sẽ được đem bán để lấy tiền chia đều.

Khi nào di sản thừa kế bị hạn chế phân chia?

Khi nào di sản thừa kế bị hạn chế phân chia?
Khi nào di sản thừa kế bị hạn chế phân chia?

Không phải lúc nào di sản cũng được đem ra phân chia ngay sau khi thời điểm mở thừa kế diễn ra. Pháp luật quy định rõ di sản thừa kế bị hạn chế phân chia (tạm hoãn phân chia) trong các trường hợp sau:

  • Theo ý chí hoặc thỏa thuận: Nếu người lập di chúc có điều khoản yêu cầu hoặc tất cả các đồng thừa kế thỏa thuận thống nhất rằng di sản chỉ được phân chia sau một thời hạn nhất định, thì di sản chỉ được đem chia khi thời hạn đó đã kết thúc.
  • Bảo vệ đời sống của người vợ/chồng còn sống: Nếu việc yêu cầu chia di sản ngay lập tức sẽ gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người vợ hoặc người chồng còn sống và gia đình, bên còn sống có quyền yêu cầu Tòa án can thiệp. Tòa án sẽ xác định phần di sản các thừa kế được hưởng nhưng chưa cho phép chia trong một thời hạn nhất định, không quá 03 năm kể từ thời điểm mở thừa kế.
  • Gia hạn thời gian hạn chế: Khi đã hết thời hạn 03 năm tạm hoãn nêu trên, nếu bên vợ/chồng còn sống chứng minh được việc chia di sản vẫn tiếp tục gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống gia đình họ, họ có quyền yêu cầu Tòa án gia hạn thêm một lần nữa. Thời gian gia hạn thêm này cũng được quy định tối đa không quá 03 năm.

Kết luận

Việc phân chia di sản thừa kế khi không có di chúc hoàn toàn tuân theo các thứ tự ưu tiên của hàng thừa kế và đảm bảo tính công bằng tuyệt đối giữa những người cùng hàng. Tuy nhiên, pháp luật vẫn linh hoạt cho phép hạn chế phân chia tài sản trong những mốc thời gian nhất định nhằm bảo vệ sự ổn định cuộc sống của người vợ hoặc chồng còn sống. Để quá trình này diễn ra suôn sẻ, các thành viên trong gia đình nên ưu tiên giải pháp thỏa thuận phân chia hiện vật một cách hài hòa.